Nhu cầu nhân lực chất lượng cao tăng nhanh
Sự chuyển dịch mạnh của cơ cấu kinh tế đang làm thay đổi nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp tại các khu công nghiệp. Tại Công ty TNHH Moons’ Industries Việt Nam, doanh nghiệp sản xuất và cung cấp hệ thống điều khiển tự động, đặt mục tiêu đến năm 2027 có hơn 3.000 lao động tại nhà máy ở khu công nghiệp VSIP Hải Phòng. Không chỉ tuyển lao động kỹ thuật, doanh nghiệp cần kỹ sư chất lượng cao, nhân sự tuyển dụng và đào tạo cấp cao, nhân lực xuất nhập khẩu…
Đây cũng là nhu cầu của nhiều doanh nghiệp lớn như LG Innotek, Pegatron, Van der Leun, Moons Industries, Eager Kenner và Viettel... Cùng với điện tử, công nghệ thông tin, cảng biển, logistics, thương mại và công nghiệp công nghệ cao được xác định là những ngành ưu tiên phát triển của thành phố. Nhu cầu tuyển dụng vì thế dịch chuyển từ lao động phổ thông, kỹ thuật cơ bản sang kỹ sư R&D, trí tuệ nhân tạo, robot, tự động hóa, bán dẫn, dữ liệu và các vị trí có khả năng làm chủ công nghệ mới.
Ông Trần Trung Hiếu - Nhà sáng lập kiêm Tổng giám đốc điều hành Công ty CP TopCV Việt Nam đánh giá: Hải Phòng là một trong số các địa phương có tốc độ tăng trưởng GRDP cao nhất cả nước. Hiện nay, các doanh nghiệp FDI trên địa bàn thành phố tạo hơn 350.000 việc làm, thu hút hàng nghìn dự án. Cơ hội việc làm rộng mở, nhưng đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, khả năng thích ứng công nghệ và năng lực sáng tạo tương ứng với quy mô phát triển.
Trên cơ sở Nghị quyết số 226/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù, thành phố triển khai các chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, thu hút nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ trọng điểm. Nghị quyết 16 của HĐND thành phố có chính sách phát triển nhân lực AI, bán dẫn, trong đó hỗ trợ theo hợp đồng làm việc, thành tích nghiên cứu, phát triển và chi phí lưu trú 20 triệu đồng/tháng trong 12 tháng đầu theo hợp đồng lao động, góp phần cụ thể hóa chủ trương thu hút nhân lực cho các ngành động lực của nền kinh tế.
Tuy nhiên, một nút thắt quan trọng hiện nay là khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng. Theo ông Đỗ Minh Thụy, Trưởng Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Khởi nghiệp sáng tạo, Trường Đại học Hải Phòng, nhà trường có hơn 15.300 người học, 6 chương trình đào tạo chất lượng cao; 158 tiến sĩ, chiếm 35,6% đội ngũ; hơn 6.200 lượt sinh viên thực tập tại doanh nghiệp, với khoảng 94,6% có việc làm. Nhà trường cũng có 21 hệ thống số, 7 nhóm cơ sở dữ liệu…
Song vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là số lượng mà còn ở năng lực thực tiễn, khi kỹ năng được đào tạo chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp. Có tới 63% doanh nghiệp coi khoảng cách kỹ năng là một trong những rào cản lớn đối với chuyển đổi. Đào tạo cần gắn chặt hơn với nhu cầu thực tế. Để tháo gỡ, Trường Đại học Hải Phòng đề xuất mô hình chính quyền – nhà trường – doanh nghiệp – tổ chức trung gian, trong đó doanh nghiệp đưa bài toán, dữ liệu và yêu cầu kỹ năng vào quá trình đào tạo; sinh viên được tiếp cận sớm với công nghệ, quy trình và vấn đề thực tế.
Học kỳ doanh nghiệp, các bài toán do doanh nghiệp đặt hàng, phòng thí nghiệm đổi mới sáng tạo liên ngành và hệ thống dữ liệu đánh giá năng lực có thể rút ngắn khoảng cách từ giảng đường đến nơi làm việc.
Tạo môi trường để người giỏi phát triển
Chính sách của thành phố tạo điều kiện ban đầu, nhưng doanh nghiệp là nơi trực tiếp sử dụng, đào tạo và phát triển nhân lực. Vì vậy, thu hút người giỏi cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải tự nâng cấp.
Theo Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Lê Lương Thịnh, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực R&D, khuyến khích đổi mới sáng tạo nội bộ, xây dựng môi trường đãi ngộ phù hợp và hình thành các bộ phận R&D, đổi mới sáng tạo. Muốn giữ người giỏi, doanh nghiệp không thể chỉ cạnh tranh bằng tiền lương mà phải tạo môi trường để họ phát huy năng lực.
Đây cũng là điểm then chốt để thành phố chuyển từ thu hút nhân lực sang xây dựng hệ sinh thái nhân lực chất lượng cao. Thành phố có những lợi thế quan trọng như nền công nghiệp phát triển, hệ thống cảng biển và logistics, sự hiện diện của các tập đoàn công nghệ, mạng lưới cơ sở đào tạo và dư địa lớn cho kinh tế số, đổi mới sáng tạo. Nếu kết nối hiệu quả, doanh nghiệp có thể đặt hàng, nhà trường đào tạo, chuyên gia nghiên cứu và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ để tạo ra giá trị mới.
Khi đó, thu hút nhân lực chất lượng cao không chỉ là tuyển thêm bao nhiêu kỹ sư, chuyên gia, mà còn là tạo ra cơ hội để họ nghiên cứu, sáng tạo và biến tri thức thành sản phẩm, công nghệ, giá trị kinh tế.
Trong 5 - 10 năm tới, nhu cầu tuyển dụng được dự báo dịch chuyển mạnh sang R&D, AI, robot, tự động hóa, bán dẫn và dữ liệu. Việt Nam được dẫn chứng có nhu cầu 50.000 kỹ sư bán dẫn vào năm 2030, trong khi 66% doanh nghiệp cho rằng nhân sự mới chưa sẵn sàng đáp ứng yêu cầu công việc. Đây là sức ép đối với thành phố, đồng thời đặt ra yêu cầu xây dựng môi trường học tập, nghiên cứu, làm việc và sáng tạo đủ hấp dẫn để hình thành khả năng tự tạo và giữ nguồn nhân lực chất lượng cao.
Doanh nghiệp cần đầu tư cho R&D và môi trường sáng tạo; các trường đại học đào tạo sát nhu cầu công nghệ, tăng trải nghiệm thực tế; thành phố tiếp tục hoàn thiện chính sách, tạo không gian kết nối và hỗ trợ nhân lực tài năng, để nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.
THANH VÂNNguồn: https://baohaiphong.vn/thu-hut-nguoi-gioi-bai-toan-khong-chi-la-thu-nhap-554767.html




