Ảnh minh họa
Kế hoạch nhằm gắn các nhiệm vụ phát triển nguồn lao động với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng nhân lực và giải quyết việc làm của Thủ đô; đồng thời, bám sát kết luận chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; cụ thể hóa nhiệm vụ theo nguyên tắc "6 rõ" (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ kết quả, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền). Nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu các sở, ngành, địa phương; xác định nâng cao chất lượng lao động và tạo việc làm bền vững là nhiệm vụ chiến lược, thường xuyên và lâu dài; gắn liền với đổi mới mô hình tăng trưởng (đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng hai con số của Hà Nội), chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế.
Cụ thể, Thành phố đặt mục tiêu bình quân hằng năm giải quyết việc làm mới cho 180.000 lao động; tỷ lệ người có việc làm ở khu vực thành thị chiếm 47% tổng lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên.
Duy trì tỷ lệ thất nghiệp chung dưới 2,5%; riêng khu vực thành thị dưới 3,0%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 75% - 80%; trong đó, tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt từ 55% - 60%. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân đạt từ 7,0% - 9,5%/năm.
Xây dựng, cập nhật hệ thống dữ liệu lao động (dữ liệu "sống") và tích hợp công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) trên Cổng thông tin việc làm Thành phố; tự động hóa quy trình sàng lọc, kết nối hồ sơ tuyển dụng. Thúc đẩy và chuẩn hóa các hình thức làm việc từ xa (remote), làm việc linh hoạt (hybrid); tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu hút nhân tài toàn quốc và quốc tế, đồng thời mở rộng cơ hội việc làm cho lao động khu vực nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bình quân hằng năm thu hút khoảng 20.000 lao động tham gia đào tạo nghề ở các cấp trình độ trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp; khoảng 15.000 lao động, ưu tiên lao động là người dân tộc thiểu số và lao động thuộc diện thu hồi đất giải phóng mặt bằng.
Chuyển mạnh từ "đào tạo theo khả năng cung ứng của nhà trường" sang "đào tạo theo nhu cầu thực tế của thị trường lao động". Phát triển mô hình liên kết 4 nhà: Nhà nước - Nhà trường - Viện nghiên cứu - Doanh nghiệp. Khuyến khích các tập đoàn công nghệ, doanh nghiệp FDI tham gia xây dựng chương trình, đặt hàng đào tạo, tổ chức thực tập và tiếp nhận nhân lực sau đào tạo.
Định hướng hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung cấp điều chỉnh danh mục ngành nghề theo tín hiệu thị trường số; tập trung ưu tiên các lĩnh vực công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, phân tích dữ liệu.
Về an sinh xã hội, đạt 100% tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân; tỷ lệ lao động tham gia BHXH bắt buộc đạt 60% lực lượng lao động trong độ tuổi; tỷ lệ lao động tham gia BHXH tự nguyện đạt 10% lực lượng lao động trong độ tuổi; tỷ lệ lao động tham gia BHTN đạt 50%.
Để hiện thực hóa các mục tiêu, Thành phố yêu cầu nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức và Nhân dân về phát triển nguồn lao động, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược đảm bảo an sinh xã hội bền vững của Thủ đô. UBND cấp xã chủ trì, phối hợp với các đoàn thể tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn trực tiếp đến hộ gia đình và người lao động; vận động người lao động học nghề, nâng cao kỹ năng; đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh tại địa phương tham gia đào tạo và tuyển dụng lao động tại chỗ.
Hiện đại hóa phương thức truyền thông, đăng tải thông tin chính thống trên Cổng thông tin việc làm Thành phố, Cổng/Trang thông tin điện tử của các sở, ngành, UBND cấp xã và các nền tảng mạng xã hội. Lồng ghép nội dung qua các hội nghị chuyên đề, sinh hoạt đoàn thể, phiên giao dịch việc làm lưu động và hệ thống loa truyền thanh cơ sở. Xây dựng các ấn phẩm, video ngắn phản ánh mô hình đào tạo nghề và tạo việc làm hiệu quả.
Tại khu vực đô thị, Thành phố tập trung phát triển kinh tế đêm và dịch vụ đô thị, khai thác các sản phẩm du lịch sinh thái, trải nghiệm làng nghề, lễ hội truyền thống để mở rộng việc làm. Đồng thời, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân, khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Đồng thời, gắn nguồn nhân lực với các dự án đầu tư công trọng điểm, chủ động rà soát, dự báo nhu cầu nhân lực của các công trình, dự án đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030; tổ chức các Phiên giao dịch việc làm chuyên đề về xây dựng, cơ khí, giao thông...
Quy hoạch các khu đô thị đa mục tiêu bảo đảm bố trí đan xen nhà ở tái định cư, nhà ở xã hội và nhà ở thương mại; giúp người thu nhập thấp tiếp cận đồng bộ hạ tầng, dịch vụ và đảm bảo sinh kế theo mô hình "sinh sống - làm việc - hưởng tiện ích tại chỗ".
Hoàn thiện hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đầu tư hạ tầng số, trung tâm R&D, phòng thí nghiệm trọng điểm để thu hút các dự án FDI công nghệ cao và tập đoàn công nghệ lớn.
Đối với khu vực nông thôn, Thành phố thúc đẩy kinh tế nông thôn đa giá trị, hình thành các cụm, khu công nghiệp chế biến nông sản, logistics; mở rộng cơ hội việc làm từ thương mại điện tử, dịch vụ logistics nông thôn, nông nghiệp cơ giới hóa và du lịch sinh thái - nghỉ dưỡng nông thôn.
Cùng với đó, lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo kỹ năng nghề, kỹ năng số, kỹ năng xanh, kỷ luật lao động và kiến thức pháp luật; hỗ trợ tiếp cận vốn tín dụng và thông tin thị trường để phát triển đội ngũ nông dân chuyên nghiệp.
Tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đẩy mạnh tư vấn, giới thiệu việc làm cho lao động dân tộc thiểu số, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật, phụ nữ và thanh niên; tăng cường nguồn vốn tín dụng chính sách để hỗ trợ người dân tự tạo việc làm, mở rộng sinh kế tại chỗ. Đồng thời, phát triển du lịch cộng đồng, du lịch trải nghiệm gắn với văn hóa, ẩm thực đặc trưng của các dân tộc.
Đẩy mạnh "Bình dân học vụ số", hỗ trợ lao động tự do và các nhóm lao động ưu tiên tiếp cận kỹ năng số cơ bản; xây dựng cơ chế liên thông giữa giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; mở rộng mô hình đào tạo nghề kép, kết hợp đào tạo lý thuyết tại trường với thực hành tại doanh nghiệp.
Thành phố cũng triển khai các chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, ưu tiên các nhà khoa học trẻ, chuyên gia đầu ngành và nhà quản trị doanh nghiệp giỏi; gắn thu hút nhân tài với chuyển giao công nghệ và đào tạo lực lượng lao động kế cận.
Đối với thị trường lao động số, Thành phố sẽ chuẩn hóa, số hóa hồ sơ người lao động và doanh nghiệp, tích hợp dữ liệu vào Hệ thống dữ liệu dùng chung của Thành phố; phấn đấu cắt giảm tối thiểu 30% thành phần hồ sơ và 30% thời gian tra cứu, xác minh thủ tục hành chính về lao động, việc làm.
Cùng với đó, Thành phố định kỳ thu thập, phân tích thông tin về cung - cầu lao động và biến động tay nghề, làm cơ sở điều hành chính sách kinh tế - xã hội; đẩy mạnh số hóa công tác chi trả an sinh, tăng cường chi trả không dùng tiền mặt đối với các chế độ BHXH, trợ cấp thất nghiệp và khai thác hiệu quả ứng dụng VssID.
Nguồn: https://hanoi.gov.vn/chi-dao-cua-ubnd-thanh-pho-ha-noi/nang-cao-chat-luong-nhan-luc-va-giai-quyet-viec-lam-cua-thu-do-4261006082159575.htm



