![]() |
| Toàn cảnh Họp báo Công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026. (Ảnh: Mai Liên) |
Phát biểu tại họp báo, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, nhận định trong 9 tháng năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều bất định từ xung đột kéo dài, cạnh tranh chiến lược, xu hướng bảo hộ và những điều chỉnh chính sách của các nền kinh tế lớn.
GDP tăng 9,95%
Trong bối cảnh đó, Cục trưởng Cục Thống kê cho biết, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tính tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%, đóng góp 5,14% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,50%, đóng góp 51,57%; khu vực dịch vụ tăng 9,54%, đóng góp 43,29%.
![]() |
| GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. (Nguồn: VGP) |
Về sử dụng GDP quý III/2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,96% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 21,39%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 23,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 28,75%.
GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%.
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp tăng 3,72%, lâm nghiệp tăng 3,99% và thủy sản tăng 4,99%. Công nghiệp và xây dựng tiếp tục là động lực tăng trưởng, với ngành công nghiệp tăng 11,02%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,36%; ngành xây dựng tăng 12,22%.
Khu vực dịch vụ duy trì đà tăng trưởng tích cực. Một số ngành ghi nhận mức tăng đáng chú ý gồm vận tải, kho bãi (11,03%); bán buôn và bán lẻ (9,85%); tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (9,45%); lưu trú và ăn uống (8,83%).
Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng, khu vực dịch vụ chiếm 42,97%; công nghiệp và xây dựng chiếm 38,35%; nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,65%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,03%.
Xét theo sử dụng GDP, tiêu dùng cuối cùng trong 9 tháng tăng 8,51%; tích lũy tài sản tăng 17,88%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 21,29%; nhập khẩu tăng 27,19% so với cùng kỳ năm trước.
Về hoạt động doanh nghiệp và đầu tư, trong 9 tháng năm 2026, cả nước có hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân mỗi tháng có khoảng 24,9 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường. Trong khi đó, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường đạt 172 nghìn, giảm 1,7% so với cùng kỳ.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong 9 tháng ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 30/9 đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.
Ở chiều ngược lại, đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài tiếp tục được mở rộng. Trong 9 tháng, có 121 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam đạt 1,28 tỷ USD, tăng 80,9% so với cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, có 32 lượt dự án điều chỉnh vốn, với số vốn tăng thêm 1,49 tỷ USD, gấp 10,8 lần cùng kỳ.
Về hoạt động thương mại và xuất nhập khẩu, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trong 9 tháng năm 2026 đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5%; nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%.
Xét theo cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 392,79 tỷ USD, chiếm 90,4% tổng kim ngạch. Nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 30 tỷ USD, chiếm 6,9%; thủy sản đạt 9,1 tỷ USD, chiếm 2,1%.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch đạt 140 tỷ USD; Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất, đạt 187,34 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa trong 9 tháng nhập siêu 19,42 tỷ USD, trái ngược với mức xuất siêu 16,87 tỷ USD cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 9, Việt Nam xuất siêu 1,27 tỷ USD, sau 9 tháng liên tiếp nhập siêu.
Đối với thương mại dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 9 tháng ước đạt 26,1 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ du lịch đạt 13,06 tỷ USD, chiếm một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ; dịch vụ vận tải đạt 7,81 tỷ USD, tăng 29,5%.
Về du lịch, dịch vụ và vận tải, trong 9 tháng năm 2026, Việt Nam đón 17,7 triệu lượt khách quốc tế, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Riêng trong tháng 9, lượng khách quốc tế đạt khoảng 1,77 triệu lượt, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2025, dù giảm 11,3% so với tháng trước.
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Tổng mức huy động vốn trên thị trường chứng khoán trong 9 tháng đạt 731,6 nghìn tỷ đồng, tăng 85,6% so với cùng kỳ năm 2025. Số lượng tài khoản nhà đầu tư tính đến cuối tháng Tám đạt gần 13,89 triệu, tăng 16,98% so với cuối năm 2025.
Bình quân 9 tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Chỉ số giá vàng bình quân tăng 42,67%, còn chỉ số giá đồng USD bình quân tăng 1,01%.
8 giải pháp chủ yếu
Lãnh đạo Cục Thống kê nhận định, việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra thách thức lớn, đòi hỏi sự chung sức, đồng lòng và vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, cùng sự ủng hộ, hỗ trợ của bạn bè quốc tế.
Các ngành, các cấp và địa phương cần chủ động cập nhật, dự báo tình hình, điều hành linh hoạt, phù hợp với bối cảnh mới và kịp thời ứng phó với những vấn đề phát sinh. Đồng thời, kiên định thực hiện mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
Theo đó, Cục Thống kê đề xuất cần quan tâm thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
Thứ nhất, kiên định mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát, giá cả và ổn định thị trường; phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô. Theo dõi sát diễn biến kinh tế, chính trị thế giới, biến động giá dầu, chi phí vận tải, tỷ giá,...
Thứ hai, tiếp tục cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Tăng cường kiểm soát dịch bệnh, phát triển chăn nuôi an toàn sinh học, quy mô tập trung và chuỗi giá trị gắn với ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số.
Thứ ba, thúc đẩy sản xuất công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh; chủ động quản trị rủi ro chuỗi cung ứng, đa dạng hóa nguồn cung và kiểm soát chi phí logistics; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thủ tục, mặt bằng và các điều kiện sản xuất, kinh doanh; đẩy mạnh phát triển các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Thứ tư, tăng tốc giải ngân vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế - xã hội. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện và bảo đảm chất lượng các dự án, công trình quan trọng quốc gia. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư; đồng thời nâng cao hiệu quả liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.
Thứ năm, hỗ trợ và nâng cao năng lực xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy xuất khẩu bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng. Tận dụng hiệu quả các FTA, mở rộng thị trường xuất khẩu; nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển dịch vụ logistics.
Thứ sáu, tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình kích cầu tiêu dùng, khuyến mại và kết nối cung cầu. Đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, mở rộng hệ thống phân phối hiện đại và bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu.
Thứ bảy, tiếp tục thúc đẩy phát triển du lịch và các ngành dịch vụ. Tăng cường xúc tiến, quảng bá, đa dạng hóa và đổi mới sản phẩm du lịch, mở rộng thị trường khách quốc tế; nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường kết nối giao thông và hàng không, tạo thuận lợi cho khách du lịch.
Thứ tám, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, chủ động ứng phó thiên tai; bảo đảm sản xuất nông nghiệp, phòng chống cháy rừng và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đảm bảo ổn định và nâng cao đời sống thực chất của Nhân dân.
Nguồn: https://baoquocte.vn/kinh-te-viet-nam-tang-truong-9-01-trong-9-thang-nam-2026-451377.html






