images.baoquangnam.vn-storage-newsportal-2021-6-18-113489-_h01-huynh-thi-bao-ho.jpg
Huỳnh Thị Bảo Hòa là tác giả nữ Việt Nam đầu tiên có tiểu thuyết bằng Quốc ngữ được xuất bản. Ảnh: Tư liệu

Đây không đơn thuần là một trích đoạn sân khấu, mà là bản tuyên ngôn đầy tâm huyết về công cuộc chấn hưng nghệ thuật và “Việt hóa” tuồng tích truyền thống của một nữ trí thức đất Quảng.

Trăn trở trước sân khấu nước nhà

Đầu thế kỷ XX, sân khấu truyền thống đối mặt với cơn khủng hoảng sâu sắc trước sự trỗi dậy của làn sóng văn hóa phương Tây và nghệ thuật cải lương. Trong bài tựa kịch bản Huyền Trân công chúa, bà Huỳnh Thị Bảo Hòa (ký bút danh Bà Vương Khả Lãm) đã chỉ rõ hai căn nguyên khiến nghề hát tuồng suy thoái: một là tuồng xưa quanh quẩn chỉ có mấy pho cũ rích mượn tích Tàu (Dương Chấn Tư, Sơn Hậu, Lý Phụng Đình…), lời lẽ quá nhiều chữ Hán khiến đại chúng khó lòng thấu cảm; hai là dàn đào kép thiếu học thức, chỉ biết múa may rập khuôn, phó mặc câu hát cho anh thầy tuồng nhắc vở phía sau cánh gà.

Xót xa trước cảnh tượng “mặt xanh vào, mặt đỏ ra” diễn toàn chuyện nước người, người xem tấm tắc khen ngợi trung thần nghĩa sĩ mà ngẫm lại “nào có phải là truyện nước ta đâu!”, bà Huỳnh Thị Bảo Hòa đã tự bỏ tiền của, công sức lập gánh hát tại Đà Nẵng cuối năm 1931 với hơn 20 nghệ sĩ, sắm sửa phông màn, y phục mới nhằm canh tân nghệ thuật. Dù gánh hát gặp khó khăn tài chính do cơn khủng hoảng kinh tế 1932, nhưng trải nghiệm thực tế máu thịt ấy đã thôi thúc bà cầm bút sáng tác. Bà quyết tâm tạo ra một tác phẩm thuần Việt, vừa cải cách hình thức dàn dựng, vừa đưa lịch sử dân tộc lên sân khấu kịch nghệ.

Đưa lịch sử Việt và quốc văn lên sàn diễn

Giá trị tiên phong lớn nhất trong Huyền Trân công chúa của Huỳnh Thị Bảo Hòa chính là ý thức dân tộc tự cường trong ngôn ngữ và đề tài. Không còn vay mượn cốt truyện ngoại bang, bà chọn ngay khúc ngoặt lịch sử bi tráng của vương triều Trần là cuộc hôn nhân hòa hiếu của công chúa Đại Việt với vua Chiêm Thành Chế Mân.

Về mặt ngôn ngữ, bà mạnh dạn rũ bỏ lối diễn dịch kinh viện, điển tích rườm rà. Lời thoại và các làn điệu (nói lối, hát nam, nam xuân, nam ai...) được diễn đạt bằng thứ Quốc văn mộc mạc, gãy gọn, giàu chất trữ tình mà ai nghe cũng có thể hiểu và cảm được. Đỉnh cao thẩm mỹ của vở tuồng nằm ở lớp Huyền Trân dừng chân trước miếu Bà Triệu bên dãy Bồ Điền, nơi bà mượn tiếng đàn gảy khúc Nam Bình ai oán: “Nước non ngàn dặm ra đi/ Cái tình chi?/ Mượn màu son phấn/ Đền nợ Ô - Lý...”. Đó không chỉ là lời thở than thân phận cá nhân, mà là khúc ca ngợi đức hy sinh cao cả của người phụ nữ Đại Việt vì vận mệnh giang sơn.

Cái nhìn nhân văn, hiện đại về thân phận người phụ nữ

Là một trong những cây bút nữ tiên phong của xu hướng canh tân đầu thế kỷ XX, bà Huỳnh Thị Bảo Hòa đã thổi vào nhân vật Huyền Trân một tinh thần nữ quyền rất mới. Huyền Trân trong kịch bản không phải là một bóng hồng thụ động tuân theo sắp đặt của chữ “hiếu” một cách mù quáng, mà là bậc nữ lưu ý thức rõ rệt vị thế và trách nhiệm công dân: “Làng cân quắc dễ thua trang hào kiệt… muốn đem phấn son tô điểm cho sơn hà, vậy nên tôi vứt kim chỉ mà chuyên nghề kinh sử”.

Khi nghe tin giặc giã và việc triều đình định kết thân cùng Chiêm quốc, nàng không oán hận vua cha hay trách cứ hoàng huynh, mà tự nguyện: “Vị chi một chút má hồng, quyết đem trả nợ non sông cũng đành!”. Đồng thời tác giả cũng miêu tả rất đỗi tinh tế mối thâm giao ý nhị giữa Huyền Trân và danh thần Trần Khắc Chung. Khắc Chung hiến kế dâng công chúa vì việc nước rồi sau đó lại vì nghĩa lớn và ân tình mà dấn thân vượt ngàn trùng sóng gió sang Chiêm quốc lập kế “chiêu hồn trên phù kiều” cứu công chúa thoát khỏi cổ tục phương Nam. Tinh thần “vì nước quên tình” của cả hai nhân vật được khắc họa đầy cảm thông, càng nâng vẻ đẹp nhân cách lên.

Di sản đáng tự hào bên bờ sông Hàn

Khép lại 3 hồi 14 lớp kịch bản, cảnh cuối cùng khi thuyền của Trần Khắc Chung và Huyền Trân rẽ sóng hướng về Thăng Long trong tiếng đàn “lịch tịch tình tang” ngân vang giữa trời nước mênh mông đã để lại dư âm bất tận về sự toàn vẹn của nghĩa và tình.

Viết tại Đà thành vào một ngày mùa đông năm 1933, công trình của nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa đã đi trước thời đại khi đặt nền móng vững chắc cho phong trào cải cách sân khấu truyền thống. Trong bài tựa, bà khiêm nhường bộc bạch: “Không câu nệ lề lối xưa, và bó buộc theo vận điền cũ, tuy rằng nôm na, nhưng thật giống quốc văn, lại thuộc về lịch sử nước nhà, gọi là cải lương trong nghề diễn tuồng được phần nào, ấy là góp chút công với quốc văn vậy”.

Năm Bính Ngọ 2026, tròn 720 năm nhìn lại dấu chân huyền thoại của Công chúa Huyền Trân qua dải đất miền Trung, việc lần giở và tôn vinh kịch bản của một người con xứ Quảng càng thêm ý nghĩa. Công trình ấy không chỉ chứng minh sức sống mãnh liệt của lịch sử dân tộc trong dòng chảy nghệ thuật biểu diễn, mà còn là niềm tự hào sâu sắc của đất và người xứ Quảng đối với nền văn học - kịch nghệ nước nhà.

Nguồn: https://baodanang.vn/huynh-thi-bao-hoa-khat-vong-viet-hoa-tuong-3354092.html