
Nhà máy điện gió bờ tại Gia Lai. (Ảnh: T. THẢO)
Những nút thắt trong phát triển năng lượng xanh ngoài khơi
Hiện nay, ở nước ta điện gió ngoài khơi chủ yếu vẫn ở giai đoạn nghiên cứu, đề xuất và thực hiện các thủ tục cấp phép khảo sát. Quá trình triển khai đang gặp nhiều vướng mắc do cơ chế, chính sách và thủ tục liên quan chưa hoàn thiện.
Tiến sĩ Dư Văn Toán (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển - Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chỉ rõ những “rào cản” trong quá trình cấp phép khảo sát điện gió ngoài khơi. Đó là quy trình xin cấp phép và thời gian phê duyệt nhiều công đoạn, có sự tham gia của nhiều cơ quan; quy hoạch không gian biển được Quốc hội phê duyệt tại Nghị quyết số 139/2024/QH15 ngày 28/6/2024 chưa có quy định không gian cụ thể cho điện gió ngoài khơi; định mức khảo sát về diện tích không gian biển chưa thống nhất.
Tiến sĩ Dư Văn Toán cho rằng, những nút thắt trong thủ tục hành chính khiến các đơn vị tư vấn, khảo sát chưa có cơ hội tiếp cận thực địa để khảo sát và đánh giá đầy đủ về tiềm năng của điện gió ngoài khơi. Cho đến nay, Việt Nam đã cấp tổng cộng 16 giấy phép khảo sát biển phục vụ nghiên cứu khả thi dự án điện gió ngoài khơi, nhưng một số giấy phép đã hết hạn. Trong khi đó, các hoạt động khảo sát cũng mới chỉ dừng ở việc đo tốc độ gió, thăm dò địa chất ở một số điểm.
Từ góc độ tư vấn, ông Lê Quang Huy, Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng điện (EVNPCC1) cũng cho rằng cần có thêm nhiều nghiên cứu để “giải mã” bức tranh không gian biển. Điều đó nhằm bổ sung đầy đủ lớp dữ liệu thông tin cho quá trình từ khảo sát đến thiết kế xây dựng và khai thác. Bởi nếu thông tin không đầy đủ, xung đột sẽ xuất hiện làm ảnh hưởng tiến độ và chi phí đối với nhà đầu tư.
Theo ông Huy, khi tiến hành khảo sát cần làm rõ một số nội dung như: Diện tích mặt biển được cấp phép đầu tư và khoảng cách giữa các trang trại điện gió; “sự va chạm” giữa các luồng hàng hải và điểm cập bờ của tàu tải trọng lớn; bài toán Layout turbine (sắp xếp vị trí các tua-bin gió nhằm tối ưu hóa chi phí sản lượng và đầu tư); khoảng trống về cơ sở thiết kế và thứ tự áp dụng tiêu chuẩn; tác động của điều kiện hiện trường; tuổi thọ công trình và trách nhiệm thiết kế; cơ sở pháp lý-kỹ thuật tài chính; ổn định lưới điện; chi phí vận hành và bảo trì (O&M)…
Theo Tiến sĩ Mai Duy Thiện, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam (VCEA), trong khoảng 5 năm trở lại đây, nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển nguồn năng lượng xanh. Cụ thể như: Quyết định số165/QĐ-TTg ngày 7/2/2024 phê duyệt Chiến lược năng lượng hydrogen; Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2024 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia; Quyết định số 363/QĐ-BCT ngày 28/2/2026 của Bộ trưởng Công thương phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia… Trên cơ sở đó, các đơn vị chức năng đã nghiên cứu, xây dựng Báo cáo đề xuất chính sách hỗ trợ phát triển lĩnh vực hydrogen xanh; thành lập nhóm Công nghệ và Năng lượng triển khai nhằm hỗ trợ thực hiện Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác về chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP), qua đó tìm kiếm sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hydrogen; nghiên cứu chuyển đổi nhiên liệu các ngành công nghiệp sang năng lượng xanh; xây dựng các quy định kỹ thuật về an toàn, yêu cầu kỹ thuật liên quan…
Tuy có nhiều chính sách hướng đến mục tiêu khai thác năng lượng xanh, nhưng lại thiếu cơ sở cụ thể để thực hiện. Đây là một trong những “rào cản” khiến chúng ta “chậm chân” hơn các quốc gia khác trong việc khai thác nguồn năng lượng xanh phục vụ kinh tế-xã hội và hướng đến mục tiêu Net Zero.
Cần sớm tháo gỡ các “rào cản”
Kinh nghiệm ở nhiều nước trên thế giới đã và đang phát triển mạnh năng lượng xanh như: Trung Quốc, Canada, Pháp, Nhật Bản, Hoa Kỳ cho thấy họ không chỉ có hệ thống chính sách thông thoáng, mà còn áp dụng nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào thị trường này. Ngoài ra, những doanh nghiệp tham gia còn được hỗ trợ tích cực từ nguồn lực khoa học, công nghệ, vốn và nhân lực chất lượng cao.
Tháo gỡ “rào cản” về chính sách là yếu tố then chốt để “mở khóa” cho năng lượng xanh ngoài khơi hiện nay. Tiến sĩ Dư Văn Toán cho rằng, cần xây dựng lộ trình, chính sách phát triển cụ thể cho mỗi loại hình năng lượng; ban hành kế hoạch thực hiện tổng thể từng năm theo Quy hoạch Điện VIII từ nay đến 2050; sửa đổi, bổ sung một số chính sách cụ thể trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; có thể xem xét, xây dựng luật riêng cho các ngành năng lượng xanh, nhất là điện gió ngoài khơi.
Bên cạnh vấn đề chính sách, cơ sở pháp lý, việc thăm dò, khảo sát vị trí xây dựng trang trại điện gió ngoài khơi cần phải bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật. Ông Lê Quang Huy lưu ý 6 nội dung mà các đơn vị khảo sát cần quan tâm. Đó là: Quy hoạch cơ sở dữ liệu không gian biển dùng chung; lập bộ yêu cầu khảo sát tối thiểu theo từng giai đoạn Pre FS-FS-FEED/TKKT-T7I; cơ sở thiết kế thống nhất thứ tự áp dụng QCVN-TCVN-IEC-DNV; cơ sở thiết kế/tiêu chí dạng cập nhật thường xuyên; chốt theo từng giai đoạn; khóa sớm điểm cập bờ, trạm đấu nối và hạ tầng truyền tải. Ngoài ra, cần tham vấn nhà sản xuất sớm, nhưng không chốt lựa chọn loại tua-bin khi dữ liệu hiện trường chưa đầy đủ.
Những vướng mắc trong quá trình cấp phép cho khảo sát tiềm năng điện gió ngoài khơi cho thấy cần sớm có giải pháp hoàn thiện chính sách, cơ sở pháp lý cho các đơn vị được cấp phép có thể triển khai đầy đủ các hoạt động thăm dò, lập quy hoạch và xây dựng phương án. Với tiềm năng rất lớn từ không gian biển của nước ta, việc triển khai các dự án năng lượng xanh không chỉ phù hợp định hướng phát triển kinh tế biển, bảo đảm an ninh năng lượng, góp phần giảm phát thải, mà còn có thể mang lại nguồn lực kinh tế lớn cho đất nước.
Theo Nhandan.vn
Nguồn: https://baoangiang.com.vn/hoan-thien-chinh-sach-cho-nang-luong-xanh-ngoai-khoi-a498688.html




