Tại Thông báo số 500/TB-VPCP về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm giải quyết căn bản tình trạng thừa, thiếu giáo viên gắn với nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu yêu cầu Bộ GD-ĐT chấm dứt tình trạng đào tạo sư phạm ở các trường không phải là trường sư phạm, kém chất lượng; đồng thời tập trung nguồn lực phát triển một số trường đại học sư phạm trọng điểm với tiêu chuẩn, tiêu chí rõ ràng và được đầu tư bài bản.
Trao đổi về vấn đề này, Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh (Đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng) cho rằng cần nhìn nhận từ bản chất của đào tạo giáo viên, tránh cách tiếp cận cơ học chỉ dựa vào tên gọi hay loại hình của cơ sở đào tạo.
- Yêu cầu chấm dứt đào tạo sư phạm tại những cơ sở không chuyên đang thu hút sự quan tâm. Theo bà, đâu là vấn đề cốt lõi cần được nhìn nhận?
Theo tôi, trước hết cần nhìn nhận vấn đề từ bản chất của đào tạo giáo viên, thay vì chỉ đặt câu chuyện trong khuôn khổ sắp xếp mạng lưới các trường đại học.
Đào tạo giáo viên là lĩnh vực có yêu cầu đặc thù. Sản phẩm của đào tạo sư phạm không chỉ là một người có kiến thức chuyên môn mà còn phải có năng lực sư phạm, hiểu biết về tâm lý giáo dục, khả năng tổ chức hoạt động dạy học và trách nhiệm nghề nghiệp đối với thế hệ tương lai.
Tuy nhiên, tôi cho rằng cần phân biệt giữa việc chấm dứt đào tạo sư phạm tại những cơ sở không đáp ứng yêu cầu chất lượng với việc mặc nhiên loại bỏ tất cả các trường không mang tên "trường sư phạm".
Tên gọi và tính chuyên biệt của một cơ sở đào tạo không thể là căn cứ duy nhất để đánh giá năng lực đào tạo. Một trường đại học đa ngành, nếu có đội ngũ giảng viên đủ trình độ, chương trình đạt chuẩn, cơ sở thực hành tốt và kết quả đào tạo được kiểm chứng, vẫn có thể đáp ứng yêu cầu đào tạo giáo viên ở một số lĩnh vực nhất định.
Ngược lại, một trường mang tên sư phạm nhưng thiếu đội ngũ, thiếu môi trường thực hành và không bảo đảm chuẩn đầu ra thì cũng không đương nhiên có chất lượng.
Vì vậy, trọng tâm của chính sách nên là chấm dứt tình trạng đào tạo sư phạm không bảo đảm chất lượng, không có năng lực thực chất hoặc không gắn với nhu cầu nhân lực. Song song với đó là tập trung đầu tư có trọng điểm cho những cơ sở đủ điều kiện phát triển thành các trung tâm đào tạo giáo viên chất lượng cao.
Điều này cần được thực hiện trên cơ sở các tiêu chí minh bạch, đánh giá độc lập và có lộ trình rõ ràng, tránh cách tiếp cận máy móc chỉ dựa vào loại hình hay tên gọi của cơ sở đào tạo.
Giáo viên Trường THCS Trưng Vương (Hà Nội). Ảnh: Nguyễn Duẩn
- Một trong những băn khoăn khi thu hẹp mạng lưới đào tạo là nguy cơ thiếu nguồn tuyển giáo viên. Bà nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
Nguy cơ đó hoàn toàn có thể xảy ra nếu việc thu hẹp mạng lưới đào tạo không được thực hiện đồng bộ với quy hoạch nhu cầu giáo viên và cơ chế bảo đảm nguồn tuyển.
Nhưng ở đây cần phân biệt rất rõ giữa "thiếu cơ sở đào tạo" và "thiếu nguồn cung giáo viên". Có nhiều trường đào tạo không đồng nghĩa với việc chúng ta có đủ giáo viên ở những môn học, cấp học và địa bàn thực sự cần.
Thực tế, tình trạng thừa, thiếu giáo viên có thể đồng thời tồn tại không chỉ giữa các địa phương mà ngay trong một địa phương, giữa các cấp học và giữa các môn học. Có những ngành đào tạo thu hút đông người học nhưng cơ hội việc làm hạn chế, trong khi một số môn học lại khó tuyển sinh, khó thu hút và giữ chân giáo viên.
Nếu chỉ căn cứ vào tổng chỉ tiêu đào tạo hoặc tổng số sinh viên tốt nghiệp để hoạch định chính sách thì rất dễ dẫn tới đào tạo không đúng nhu cầu.
Do đó, việc sắp xếp mạng lưới phải bắt đầu từ dự báo nhu cầu giáo viên trong trung và dài hạn, gắn với quy mô học sinh, cơ cấu môn học, biến động dân số, quy hoạch mạng lưới trường lớp và khả năng cân đối ngân sách của từng địa phương.
Đặc biệt, cần xây dựng dữ liệu liên thông giữa ngành Giáo dục, ngành Nội vụ và các cơ sở đào tạo để xác định tương đối chính xác số lượng, cơ cấu giáo viên cần tuyển theo từng năm, từng địa bàn.
Với những môn học đang thiếu nguồn tuyển, không nên áp dụng máy móc nguyên tắc thu hẹp đầu mối. Có thể duy trì hoặc đặt hàng đào tạo tại những cơ sở có năng lực phù hợp, kể cả các trường đại học đa ngành ở địa phương, nếu đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn.
Đối với những ngành có quy mô tuyển sinh nhỏ, có thể tổ chức đào tạo theo hình thức liên kết giữa các trường, sử dụng chung đội ngũ giảng viên và cơ sở thực hành. Tuy nhiên, phải xác định rõ một đầu mối chịu trách nhiệm về chất lượng và chuẩn đầu ra.
Cùng với đào tạo, chính sách thu hút và sử dụng giáo viên cũng phải được tính đến. Những địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa hoặc những môn học thiếu nhân lực cần có cơ chế đặt hàng đào tạo, học bổng gắn với cam kết làm việc, hỗ trợ chi phí sinh hoạt và điều kiện phát triển nghề nghiệp.
Đồng thời, phải cải thiện chính sách tiền lương, nhà ở công vụ và môi trường làm việc để giáo viên sau khi tốt nghiệp có động lực lựa chọn và gắn bó với những địa bàn này.
- Như vậy, theo bà, bài toán thiếu giáo viên không thể giải quyết chỉ bằng việc sắp xếp lại các cơ sở đào tạo?
Đúng vậy. Điều quan trọng là phải giải quyết đồng thời ba khâu: đào tạo đúng nhu cầu, tuyển dụng kịp thời và giữ chân được giáo viên.
Nếu chỉ thu hẹp cơ sở đào tạo mà không xử lý những bất cập trong tuyển dụng, biên chế và chế độ đãi ngộ thì ngay cả khi có đủ sinh viên tốt nghiệp, tình trạng thiếu giáo viên vẫn có thể tiếp diễn.
Đây cũng là lý do việc tổ chức lại mạng lưới đào tạo giáo viên cần được đặt trong tổng thể quy hoạch nguồn nhân lực giáo dục, thay vì chỉ xem đó là bài toán giảm hay tăng số lượng trường đào tạo.
- Thông báo 500/TB-VPCP cũng đặt vấn đề tập trung nguồn lực phát triển một số trường đại học sư phạm trọng điểm. Theo bà, làm thế nào để việc tập trung nguồn lực vừa tạo ra những trung tâm đào tạo chất lượng cao, vừa không làm mất cân đối cơ hội học tập giữa các vùng, miền?
Tập trung nguồn lực để phát triển một số trường đại học sư phạm trọng điểm có thể tạo điều kiện hình thành những trung tâm đào tạo, nghiên cứu giáo dục chất lượng cao. Nhưng tập trung đầu tư không đồng nghĩa với tập trung toàn bộ hoạt động đào tạo vào một số ít trường.
Theo tôi, cần phân định rõ vai trò của các trường sư phạm trọng điểm và mạng lưới các cơ sở đào tạo giáo viên trên cả nước.
Các trường trọng điểm cần đảm nhận vai trò dẫn dắt về chuẩn chương trình, nghiên cứu khoa học giáo dục, đào tạo giảng viên, phát triển phương pháp giảng dạy và chuyển giao công nghệ giáo dục.
Trong khi đó, các cơ sở đào tạo ở địa phương có thể đảm nhiệm đào tạo giáo viên theo nhu cầu vùng, miền, nhất là những ngành học có đặc thù địa phương hoặc khó thu hút người học.
Như vậy, cần xây dựng một mạng lưới đào tạo có tính phân công và liên kết, thay vì chỉ tập trung nguồn lực vào một số cơ sở rồi để các trường còn lại tự xoay xở.
Những trường có thế mạnh có thể chia sẻ chương trình, học liệu số, đội ngũ giảng viên và kinh nghiệm quản trị đào tạo với các cơ sở trong mạng lưới. Tuy nhiên, sự liên kết phải hướng đến nâng cao năng lực thực chất của các trường tham gia, chứ không chỉ dừng ở ký kết hợp tác hoặc tổ chức những hoạt động trao đổi mang tính hình thức.
Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh.
- Vậy nguồn lực đầu tư nên được phân bổ như thế nào để tránh tình trạng nơi được đầu tư mạnh, nơi lại khó duy trì những ngành đào tạo thiết yếu?
Cần có chính sách đầu tư theo nhiệm vụ và năng lực. Các trường trọng điểm cần được đầu tư đủ mạnh về đội ngũ giảng viên, phòng thí nghiệm, trường thực hành, cơ sở nghiên cứu và hạ tầng số. Các trường ở địa phương cần được hỗ trợ có mục tiêu để duy trì những ngành đào tạo thiết yếu, phục vụ nhu cầu nhân lực của vùng.
Việc phân bổ ngân sách cần căn cứ vào chất lượng, nhiệm vụ được giao và hiệu quả đầu ra, đồng thời tính đến đặc thù của những địa bàn có quy mô tuyển sinh nhỏ nhưng nhu cầu giáo viên rất lớn.
Một vấn đề khác cần đặc biệt quan tâm là cơ hội tiếp cận đào tạo của học sinh ở vùng khó khăn. Nếu tập trung trường trọng điểm khiến chi phí học tập, sinh hoạt tăng lên và khoảng cách địa lý trở thành rào cản thì chính sách có thể vô tình thu hẹp nguồn tuyển giáo viên từ chính những địa bàn đang thiếu nhân lực.
Vì vậy, cần có học bổng, chính sách tín dụng phù hợp, hỗ trợ chỗ ở và các chương trình đào tạo gắn với địa chỉ sử dụng.
Có thể nghiên cứu mô hình đào tạo kết hợp trực tiếp và trực tuyến đối với những học phần phù hợp, nhưng không thể thay thế hoạt động thực hành sư phạm và rèn luyện nghiệp vụ tại trường phổ thông.
Hiệu quả của việc phát triển các trường sư phạm trọng điểm vì thế không nên chỉ đánh giá bằng quy mô đầu tư hay thứ hạng học thuật, mà còn phải nhìn vào khả năng nâng cao chất lượng chung của mạng lưới đào tạo, mức độ đáp ứng nhu cầu giáo viên và khả năng thu hẹp khoảng cách chất lượng giáo dục giữa các vùng, miền.
- Từ câu chuyện đào tạo sư phạm, bà có cho rằng cần hướng tới mô hình chuyên biệt hơn đối với từng cơ sở giáo dục đại học?
Tôi cho rằng cần tiếp cận từ nguyên tắc phân công, phân tầng và chuyên môn hóa trong hệ thống giáo dục đại học.
Không nhất thiết mọi trường đại học đều phải đào tạo nhiều ngành, nhiều lĩnh vực mới được coi là phát triển. Một hệ thống giáo dục đại học hiệu quả cần có sự đa dạng về mô hình, trong đó mỗi cơ sở có sứ mạng, thế mạnh và nhóm ngành ưu tiên rõ ràng, phù hợp với năng lực và nhu cầu xã hội.
Tuy nhiên, chuyên biệt hóa không có nghĩa là mỗi trường chỉ được đào tạo duy nhất một ngành, cũng không nên áp dụng một mô hình cứng nhắc cho tất cả các cơ sở.
Có những lĩnh vực cần đào tạo chuyên sâu, yêu cầu nghiêm ngặt về thực hành, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội như sư phạm, y khoa, luật. Trong khi đó, những lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, vật liệu mới hay năng lượng lại đòi hỏi sự kết hợp liên ngành, liên lĩnh vực.
Vì vậy, mô hình đào tạo phải xuất phát từ đặc thù của ngành nghề, chứ không chỉ từ mong muốn mở rộng quy mô hay danh mục ngành đào tạo của từng trường.
Đối với đào tạo giáo viên, năng lực chuyên môn phải gắn chặt với nghiệp vụ sư phạm và trải nghiệm thực tế tại trường phổ thông. Không thể sử dụng một bộ tiêu chí chung, thiên về số lượng giảng viên hay điều kiện cơ sở vật chất, để đánh giá chất lượng của tất cả các ngành nghề có đặc thù rất khác nhau.
Theo tôi, cần chuyển mạnh từ quản lý theo danh mục ngành đào tạo sang quản lý dựa trên năng lực thực chất và kết quả đầu ra. Trước hết phải xác định rõ sứ mạng và lĩnh vực đào tạo cốt lõi của từng cơ sở giáo dục đại học, dựa trên quy hoạch mạng lưới, nhu cầu nhân lực và năng lực thực tế.
Tiếp đó là thiết lập hệ thống tiêu chuẩn chất lượng riêng cho từng nhóm ngành, đi kèm cơ chế kiểm định độc lập và giám sát thường xuyên. Đối với những ngành có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, quyền lợi và sự an toàn của người dân, yêu cầu về điều kiện đào tạo, thực hành và trách nhiệm giải trình càng phải cao hơn.
- Xin trân trọng cảm ơn bà!
Nguồn: https://phunuvietnam.vn/dai-bieu-quoc-hoi-khong-nen-mac-nhien-loai-bo-cac-truong-khong-mang-ten-truong-su-pham-238261003095137108.htm




